Tổng số lượt xem trang

Thứ Sáu, 13 tháng 3, 2026

 

MẤY NẺO NAN TRE

truyện ngắn

 

-Nhà Yên Nội, tám ngựa, một voi hoàn chỉnh…

Lão Cạch hấp háy đôi mắt sau đôi mục kỉnh quan sát chiếc ô tô vừa đậu trước cửa nhà rồi phán oang oang. Một phụ nữ gầy đét lụi cụi lôi ra cả đám khung hình con thú bốn chân cùng một mô hình con voi đã dán giấy, bôi mầu xanh đỏ. Phía ngoài một chiếc xe hiệu Mercedes loại hai mưoi bốn chỗ ngồi mở toang cửa. Tay lái xe kiêm bốc vác nhận từng mô hình con thú quăng ào vào thùng xe rồi sập cửa, lao đi, nhường chỗ cho một xe khách đang lừ lừ tiến vào.

-Nhà này thế nào đây cậu ơi!

Chị chàng gầy đét cất tiếng lanh lảnh. Lão Cạch lại hấp háy mắt dò tìm những dấu hiệu lão đã quen thuộc trên chiếc xe khách. Đã nhận ra chiếc xe quen, lão xướng:

-Nhà Tý Quân, mười sáu hình nhân, một ti vi, tiền mặt nhá!

Vụ này có vẻ trầm trọng hơn bình thường, lão Cạch lập cập ra tận cửa xe ngó nghiêng. Cả đám khách trong xe chả ai để mắt đến,  lão Cạch lùi lại mấy bước nhìn lên nóc xe. Các hình nhân được thằng oắt con lơ xe xâu vào một sợi dây nhựa rồi nhẩm đếm  kỹ lưỡng. Ngồi nhún nhún nhún lấy đà trên đống hình nhân, vừa ghì xiết cái dây nhựa vào thanh lan can nóc xe, thằng lơ xe vừa thủng thằng nói vọng xuống:

-Đủ rồi bố ạ!

Tụt xuống khỏi nóc xe, thằng lơ xe móc trong túi quần bò ra một nắm tiền. Chọn những tờ tiền nhàu nhĩ có mệnh giá bé nhất, thằng lơ xe chìa ra trước mặt lão Cạch và bảo:

-Bố đếm đi. Năm trăm bốn mươi ngàn…, đủ nhá!...

Bảy mươi tuổi đời, biết uốn cái nan tre đan giỏ bắt cua từ năm mười tuổi, nhưng mãi đến dăm năm trở lại đây, cái ngón nghề đan lát của lão Cạch mới đắc dụng. Thời trước, dẫu là tay đan nức tiếng, nhưng năm thì mười họa mới kiếm được chục bạc, ấy là khi có người ở xa đến đặt lão đan cho đôi thúng hay cái bồ đựng thóc. Quanh quẩn trong làng, thỉnh thoảng người ta mới đem tới cho lão yến thóc, con gà… , những thứ đồ lặt vặt người ta chỉ hậu tạ đôi chén rượu suông hay nắm thuốc lào chứ làm gì có tiền bạc! May mà đất đồng rừng, sẵn tre nứa, chả phải mua, nên lão Cạch thỏa sức luyện tay nghề. Cứ đến độ nông nhàn là lão hì hụi đốn tre, chặt nứa đan đủ thứ vật dụng mà lão thích. Có những thứ đồ đan xong, ngắm nghía chán lão lại ngoắc lên gác bếp chứ chả dùng đến. Dân làng ai cần lão lại lôi xuống đem cho…

Cứ ngỡ là cả cái nghiệp đan lát của lão Cạch rồi cũng xếp vào xó bếp khi các vật dụng bằng nhựa, bằng kim loại ngày càng sẵn lại rẻ. May sao, khi đời sống người dân khá khẩm lên tý chút, các loại thầy bà, thần thánh mọc ra như mạ. Đồ hàng mã lên ngôi, thế là nghiệp đan của lão Cạch được vực dậy. Sẵn có tay nghề được luyện cả nửa đời người, chả có thứ hình nào lão Cạch không đan được. Từ hình nhân nam nữ, hình mã, hình tượng đến hình long, ly, quy, phượng…, ai đặt gì lão đáp ứng được ngay. Khách hàng ngày một nhiều, lão huy động cả nhà, bỏ ruộng đồng, lăn vào làm đồ hàng mã. Gia cảnh nhà lão Cạch phất lên nhanh chóng. Từ một anh nông dân nghèo khó, lão trở thành người có của nả, chả kém cạnh gì trong thiên hạ.

Thói đời cứ có sự thay đổi đồng tiền trong túi là người ta lại soát xét lại thân phận. Rủng rỉnh chút thu nhập, lão Cạch lại tấp tểnh nghĩ đến cái danh phận chốn nhân gian.

Thì thụt cơm rượu mươi bận, rồi thì lão Cạch cũng trở thành hội viên Hội Đan lát Nghệ thuật. Vào hội rồi lão bỗng thấy tầm vóc mình trở nên hoành tráng quá! Thì xưa nay với cái vốn chữ nghĩa lớp Hai bổ túc, đọc được những chữ với số trên đồng tiền là khá rồi, lão Cạch chỉ dám giao du với cái đám thuốc lào, chân đất trong làng. Thế mà bây giờ mỗi lần đi họp hội, lão ngồi ngang hàng với cả đống Nghệ sĩ đan lát, có cả kiến trúc sư, cử nhân, quan chức hàng tỉnh, hàng huyện…, gặp lão là họ sẵn sàng giơ tay ra bắt rất là quý hóa! Lão còn nhận ra rằng tay nghề của cái hội ấy cũng chả có gì là đặc sắc! Mấy năm liền, năm nào lão cũng tham gia dự thi, triển lãm tác phẩm đan lát nghệ thuật, có lạ gì!

Tác phẩm của lão Cạch dường như năm nào cũng to nhất hội. Trong khi những cái mẹt, cái thúng hay cái quạt, cái gối… của người ta chỉ lắt nhắt vài gang tay, thì mô hình đại bàng, tàu thủy, máy bay… của lão Cạch cứ phải là vài sải tay mỗi chiều là ít. Mỗi bận đem tác phẩm đi trưng bày, lão đắc chí lắm! Chỉ cần liếc qua thôi, cũng đủ biết công sức tiền bạc lão bỏ ra hơn hẳn mọi người. Tác phẩm của lão chắc chắn giảnh giải cao, mà đạt giải rồi là hội sẽ phong danh hiệu Nghệ sỹ đan lát cho lão. Cái danh trên đời này lão cũng chỉ ước đến thế thôi!

Thế nhưng rồi tác phẩm của lão chả năm nào đạt giải gì. Trong khi đó mấy cái quạt, hay mấy cái mẹt vớ vẩn lại giành giải cao. Lão bực! Lão cay cú! Không phải cái lão Cạch này cần mấy đồng tiền giải thưởng nhá! Nhưng thử hỏi đã ai đan lát kỳ công như lão Cạch này không? Lão sục sôi đi hỏi cho ra nhẽ. Người ta bắt tay lão rất quý hóa rồi bảo:

-Tác phẩm ông đan tuyệt vời lắm, nhưng cái yếu tố nghệ thuật hơi ít một tý. Ông cố gắng thêm nhé…

Nghệ thuật! Nghệ thuật là cái quái gì? To như thế, cứng cáp như thế, bóng bẩy như thế…chả nhẽ không phải là nghệ thuật à? Lão hoang mang hoài nghi! Rồi lão dằn giỗi cáu kỉnh! Đã thế lão đếch thèm nữa…

May mà năm nào kết thúc triển lãm cũng có mấy kẻ đến chèo kéo mời lão đi uống rượu rồi xin lại cái mô hình về cho trẻ chơi rước đèn Trung Thu. Bực đấy nhưng lão Cạch cũng hể hả ngay, bởi thực ra lão cũng chả biết xử lý những cái mô hình ấy thế nào cho nó có vẻ nghệ sỹ một tý.

Đã có hồi lão Cạch chán, chả muốn tham gia với Hội Đan lát Nghệ thuật làm gì. Lợi lộc đâu không thấy, chỉ thấy bực. Cứ quanh quẩn với đám hàng mã vừa có tiền lại vừa nhẹ đầu. Nhưng rồi lâu lâu lão lại ngẫm nghĩ suy xét lại thân phận. Cuộc sống thì khá giả rồi, mọi ngón nghề đan lát lão mầy mò được cả, chỉ có mỗi tí nghệ thuật chả nhẽ lại bó tay? Không! Dứt khoát là lão phải mò cho bằng được, chỉ cần biết nghệ thuật nó là cái gì, dứt khoát lão sẽ đan được!

Có đến mấy ngày liền lão Cạch vò đầu bứt tóc với cái câu hỏi “nghệ thuật là cái gì?”. Sách vở thì vô khối đấy nhưng chả ai đọc cho. Đi hỏi thì cái thói tự ái nhà quê lại khư khư giấu dốt. Tính nát nước rồi thì lão Cạch cũng tặc lưỡi: “Thôi thì…”

Mục tiêu lão Cạch nhắm tới là cái tay kiến trúc sư năm nào cũng có chân trong ban giám khảo.

-Hê hê… chào nghệ sỹ Cạch!

Vừa gặp, lão kiến trúc đã vồn vã chào rồi giơ tay ra bắt. Câu chào như thứ men bốc phừng phừng lên đầu, thúc giục lão Cạch thực thi cái đường lối mà lão đã tổn hao tâm trí vạch ra.

-Nghệ sỹ gì đâu. Cũng là … muốn nhờ ông chỉ bảo cho về cái món nghệ thuật…

-Úi giời… cái đấy nó mông lung rộng lớn lắm, phải là lâu dài ông ạ.

-Thôi… chả nhiều thì ít. Mời ông chiều nay sang bên nhà tôi chơi thăm nhà, cho tôi được thỉnh giáo mấy đường …

-Không được rồi ông ơi. Để hôm khác đi, chiều nay chi hội bọn tôi họp!

-Tiếc quá. Tôi lùng mua được con cầy hương, để mấy hôm nữa nó gầy mất. Ông xem bố trí, muộn tý cũng được. Bây giờ đi lại xe cộ nó cũng sẵn…

-Hị hị…, ông bày vẽ khách sáo quá! Thôi được, để tôi bố trí nhá.

Mọi dự tính, bài vở của lão Cạch thế là diễn ra trôi chảy. Đến độ trà dư, tửu hậu, đôi bên đã thành chỗ tình thân, lão Cạch mới dò dẫm:

-Nài chú…, tác phẩm dự thi năm nào tôi cũng đan rất công phu, nhưng người ta cứ bảo là thiếu nghệ thuật. Thế chú bảo tôi xem phải đan thế nào nó mới đủ nghệ thuật?

-Thôi mà bác! Bận tâm mấy cái ấy làm gì. Nó vốn là thứ vô cùng biến ảo, theo đuổi có khi hết đời như em cũng chả bắt được.

-Dưng mà tôi thấy mấy thứ được giải cũng chả có gì là hơn tôi cả, lại toàn những đồ lắt nha lắt nhắt.

-Hệ hệ… thì ra bác muốn được giải chứ gì. Cứ từ từ rồi khác có…

-Ừ thì công lao mình theo đuổi, cũng phải có chút danh thơm để lại cho hậu thế chứ?

-Cái này thuộc phạm trù khác. Ờ mà bác cũng chả cần biết phạm trù là gì. Bác chỉ cần hiểu cho em, giải thưởng với nghệ thuật là hai thứ khác nhau, bác nhá!

-Tôi chả hiểu. Chú nói nôm na tôi nghe xem nào.

-Giải thưởng là phải cơ cấu nhân sự. …. Tức là thì…bố trí cho một số người từ khi chưa chấm cơ. Thôi thì “hoa thơm mỗi người ngửi một tý”. Đằng nào cũng tiền của thiên hạ phân phối lại cả.

-Ái dà…chắc lại nhất thân, nhì quen… Thế là tham nhũng rồi còn gì?

-Bác cứ từ từ nghe em nói. Bác có biết nghệ thuật vị nhân sinh là gì không? Tức là thì…nghệ thuật phải dành cho người sống, bác rõ chửa?

Có vẻ đắc chí với câu giải thích rất mạch lạc của mình, ông kiến trúc vơ chén rượu giơ ra trước mặt lão Cạch nhứ nhứ. Dẫu vẫn còn mù mịt, lão Cạch vẫn phải nâng chén lên hưởng ứng. Sau tiếng “khà” khoái trá, ông kiến trúc nhón tay bốc một miếng thịt cấy quăng tỏm vào miệng. Ông ta không nhai mà dồn miếng thịt cầy vào một bên hốc má. Vừa ngậm thịt, ông kiến trúc vừa cất giọng ngàn ngạt giảng giải tiếp:

-Tức là thì… khi bác sống phải cho bác hưởng nghệ thuật một tý, kẻo lúc chết mà chưa được hưởng, bác lại về oán ban tổ chức. Giải thưởng là phải ưu tiên dành cho các nghệ sỹ  có triệu chứng sắp “đi”, coi như là đồ phúng viếng của Hội, bác rõ chửa?

-Khéo mà chú say rồi, làm gì có chuyện như thế!

-Tức là thì…bác mới vào hội mấy năm, chứ em đã làm giám khảo hàng chục năm rồi nhá! Vị nào có nguy cơ chấm dứt sự nghiệp đều có giải cả, bác rõ chửa?

-Chú chả thật lòng với tôi rồi! Cái lão Vẽo năm trước nhận giải A, xong rồi vẫn lượn suốt ngày ngoài phố đấy thây?

Đẩy miếng thịt sang góc hàm đối diện cho đỡ mỏi, ông kiến trúc cụp mắt xuống ra vẻ buồn bã:

-Em đã nói đến thế mà bác còn chả tin thì em cũng đến chịu.

-Thì tôi cứ thấy thế nào thì nói thế, chứ có gì nghĩ ngợi gì thêm đâu.

-Cái trường hợp ấy… chính là một kiểu nghệ thuật đấy, bác rõ chửa?

Ông kiến trúc chợt trợn lồi mắt nhìn xoáy vào lão Cạch, giọng gằn xuống đầy vẻ nghiêm trọng.  Không để cho đối tác kịp ngạc nhiên, ông kiến trúc đã tiếp tục ngàn ngạt:

-Tức là thì… cái ngón đan lát của lão Vẽo cũng nhì nhằng thôi, chả có gì đáng nói. Nhưng mà năm ngoái lão đi nằm viện, anh em Ban chấp hành hội đến thăm thấy lão trợn ngược mắt, hay tay bắt chuồn chuồn, ngỡ là lão sắp “đi”, liền xếp cho lão cái giải A. Ngờ đâu lão chỉ bị công thuốc, nhận giải xong lão lại khỏe như vâm. Nó là thế, bác rõ chửa?

Ngẫm lại, lão Cạch thấy cũng có lý! Năm lão mới vào hội, giải A thuộc về ông Tư Nhỡ, chưa kịp nhận giải đã sang cõi khác vì mắc chứng ung thư. Năm sau giải A  xếp cho tay Mạc Len bị tai biến đột quỵ, không chết nhưng bán thân bất toại. Năm sau nữa cái lão Vẽo nhì nhằng thế nào lại qua mắt được Ban tổ chức ẵm cái giải to tướng, có giải rồi là lão ta ngênh ngênh làm hồ sơ danh hiệu Nghệ sỹ đan lát…Thì ra cái tay kiến trúc này nói cũng không sai!

Lão Cạch gật gù, vơ cái chai rượu châm đều vào hai chén rồi ngẩng lên cất giọng giả lả:

-Chả nhẽ phải lăn ra mà chết để mà kiếm cái giải à? Tôi chả chơi! Cứ tưởng chú rành về cái nghệ thuật, chỉ vẽ thêm cho tôi, chứ ai lại…

-Tức là thì…- ông kiến trúc xua tay chen ngang vào câu nói đang lửng lơ của lão Cạch: -Em không bảo bác phải lăn ra, nhưng mà bác đã vào hàng “cổ lai hy” rồi, còn mầy mò nghệ thuật nghệ thiếc đến bao giờ nữa. Mà…. nghệ thuật thì thiếu gì? Cứ như cái lão Vẽo ấy cũng là nghệ thuật đấy, bác rõ chửa?

-Hơ hơ hơ…, hay thật! Chúc chú một chén.

Lão Cạch đột ngột cười phá lên như vớ được của quý. Thì ra cái nghệ thuật nó muôn hình vạn trạng thật. Cái tay kiến trúc này thế mà hay ra phết! Cứ tưởng nghệ thuật nó vời vợi mãi đâu, hóa ra nó ở trong đầu người ta thôi, mà lại còn “vị nhân sinh” nữa chứ! Cứ như lời giải thích của tay kiến trúc này thì lúc còn sống khỏe mạnh phải cố mà chấm mút càng nhiều càng tốt, chứ chết rồi thì nhá làm sao được cái món nghệ thuật nữa.

Không hiểu vì dai hay đã hết vị, sau khi nuốt chén rượu mời của lão Cạch, ông kiến trúc nhè miếng thịt cầy ra tay rồi ném bẹt xuống nền nhà. Con chó mực hí hửng nhao tới, nhưng rồi sau khi ngửi qua nó lại cụp mắt quay đi.

-Năm nay nhá! – cái môi dưới trề ra, ông kiến trúc lại cất giọng ngàn ngạt: -Bác đừng đan cái mô hình to tướng làm gì cho rách việc. Cứ làm cái nho nhỏ như cái giỏ ấm này cho em. Sau đó, tức là thì…, bác về quê mà điều trị gì đó, rõ chửa?

Ôi chao, nghệ thuật như thế thì trong tầm tay lão Cạch rồi! Năm ấy lão chuốt sợi giang đan cái ấm ủ to hơn quả bưởi gửi lên ban tổ chức cuộc thi rồi lửng khửng ra trạm xá xã lấy cái giấy đi khám tim phổi tận Hà Nội, tiện thể ghé về quê chơi cả tháng. Ông kiến trúc loan tin rằng hình như lão Cạch đã gần đất xa trời,  thế là ban tổ chức vội xếp cho cái ấm ủ giải A cùng mấy triệu tiền thưởng. Mọi chuyện xong xuôi lão Cạch mới lục tục quay về, bao nhiêu quần áo cũ chật tiệt cả….

Biết chắc không thể làm cái nghệ thuật ấy lần thứ hai, với lại đã có tấm bằng chứng nhận giải A treo lô lố giữa nhà rồi, năm nay lão Cạch chả còn đắm đuối với chuyện giành giải đan lát nữa. Chọn từ trong đống tre nứa vốn để đan hàng mã, lão đan quấy quá một bộ năm cái thúng, nong, nia, dần, sàng rồi bê lên giao cho ban tổ chức, gọi là có tên trong danh sách nghệ nhân tham gia triển lãm thôi. Giải thưởng đã cơ cấu cho vị nào sắp “đi” rồi, cái tay kiến trúc chả nói thế là gì? Lão Cạch chả trông ngóng gì ở cuộc thi ấy cả…

-Cụ Cạch ơi! Cụ có công văn đây này!

Đang lững thững đi vào nhà, vừa đi vừa vuốt lại mấy tờ giấy bạc nhàu nhĩ, lão Cạch nghe có tiếng người eo éo ngoài cổng. Đút cả nắm tiền bồm vào túi áo, lão lập cập quay lại. Thì ra là cậu chàng giao thông xã đi đưa thư báo.

-Cụ có công văn của Hội Đan Lát Nghệ thuật đây này.

Anh chàng đưa thư vừa nói vừa chìa cho lão Cạch cái phong bì mỏng teo. Sau khi gật đầu cảm ơn, lão Cạch đủng đỉnh quay trở vào nhà, vừa đi lão vừa giơ cái phong bì lên soi. Chắc là giấy mời hay giấy gì đó chứ không phải tiền. Cái của này lại phải bảo thằng cháu nội đọc chứ lão thì dịch đến cả ngày không xong. Thằng cháu nội lão Cạch có vẻ thích thú với cái bổn phận đọc giấy tờ lắm, nó chạy huỳnh huỵch đến đón cái phong bì rồi xé rất thành thạo. Sau khi lôi ra một tờ giấy gập đôi, liếc mắt qua một lượt, thằng bé đọc liến thoắng một mạch. Thì ra là giấy mời họp tổng kết giải của hội. Mấy năm qua, năm nào cũng đi dự đầy đủ, lão Cạch chả lạ lẫm gì cái món tổng kết ấy. Đã là không được giải thì đi họp chỉ có bắt tay suông với hút thuốc lào vặt thôi chứ chả có cái trò gì hơn.

Nhẩm tính kỹ trong đầu, lão Cạch quyết định không đi dự cái tổng kết vô bổ ấy nữa mà ở nhà dán mấy thứ đồ hàng mã. Buổi sáng, lão gọi thằng con trai út lại rồi giao việc:

-Anh kéo cái xe thồ vào thành phố, đến khu triển lãm nghệ thuật đan lát, hỏi ban tổ chức rồi chở mấy cái nong nia dần sàng về mà dùng, để họ lấy mất, phí cái công chẻ nan.

Thằng con lôi xe đi rồi, lão Cạch đủng đỉnh vê thuốc lào rồi châm đóm, cái ống điếu rít lên xoe xóe. Chiêu thêm ngụm nước chè đặc, lão Cạch khoan khoái ườn mình trên ghế da, vừa ngắm cái bằng chứng nhận giải A vừa ngẫm ngợi:

“Cái nghệ thuật của tay kiến trúc vẽ ra hay thật! Được cơ cấu giải mà mình vẫn chả suy suyển tý gì. Cái danh thì cả làng cả xã biết rồi, chả đứa nào dám coi thường lão Cạch này. Người thì ngày càng thấy khỏe ra. Mình mà diện bộ com – lê, cà – vạt vào thì bọn ở hàng tỉnh cũng chả “đỏm” hơn được…”

Tiếng xe máy lao xịch từ ngoài ngõ vào khiến lão Cạch giật mình quay ra. Thì ra là thằng con trai út. Sư cha nhà nó! Giật cả mình. Đi đâu mà như ăn cướp thế không biết?

-Ban tổ chức họ bảo đồ của bố được giải rồi, phải để trưng bày, không lấy về được.

Vẫn sùm sụp cái mũ bảo hiểm, anh con trai thủng thẳng thông báo.

-Hả? – lão Cạch trợn tròn mắt: -Giải gì?

-Con không biết, bố ra mà xem, họ bảo hôm nay trao giải đấy!

“Quái lạ nhỉ? Mấy cái nong nia dần sàng ấy có tý nghệ thuật quái nào đâu mà lại được giải? Mình đang đường đường khỏe khoắn thế này chắc chắn không được “cơ cấu” rồi. À…, chắc năm ngoái mình được giải A, năm nay họ nể nên dúi cho cái khuyến khích chứ gì…”

Vừa lập cập khoác cái áo véc - tông, lão Cạch vừa đoán già đoán non. Liếc qua cái gương đứng lần cuối, lão lôi đôi dép tông lỳ dưới gậm tủ thờ ra rồi cẩn thận xỏ ngón chân vào. “Đi ra ngoài bây giờ là bao nhiêu người nhìn vào, mình phải ăn mặc trang trọng chứ không búi xùi được”, lão Cạch vừa vuốt lại mái tóc vửa thầm tự nhủ như thế. Xong xuôi, lão hối anh con út:

-Đi! Anh đưa tôi ra đấy xem sự thể thế nào…

Khu triển lãm nghệ thuật đan lát chả còn nhộn nhịp nữa. Lác đác mấy tay rình xin những món đồ không được giải mang về tận dụng. Lão Cạch bổ đến chỗ mấy cái nong nia dần sàng được treo lủng lẳng. Một tấm biển nhỏ đặt bên dưới ghi dòng chữ: “Tác phẩm: THÁI DƯƠNG HỆ”. Một tay trung niên đeo phù hiệu Ban Tổ chức lạch đạch chạy đến nhăn nhở:

-Chúc mừng cụ nhé. Năm ngoái A năm nay lại A. Nhất cụ đấy.

-Hị hị…, Cậu xem lại, có khi nhầm nhọt thế nào ấy chứ.

-Nhầm là nhầm thế nào? Con còn giữ một tờ quyết định của ban tổ chức đây.

Vừa nói, anh chàng tổ chức vừa xòe ra một kẹp mấy tờ giấy. Chỉ vào một dòng chữ lít nhít, anh ta đọc dằn từng chữ:

-Đây nhá! Giải – A – tác – phẩm – Thái – dương – hệ. Tác – giả - Trương – văn – Cạch.

-Của tôi là Nong – nia – dần – sàng cơ mà, sao lại “thái dương” với lại “thái âm” là sao?

-Tên này do Ban tổ chức đặt. Cụ đúng là thâm thúy thật! – anh chàng tổ chức xuýt xoa: -Có cả nhật, nguyệt, sao Kim, sao Hỏa với quả đất quay tròn, lại mang cả thông điệp “lọt sàng xuống nia” mới ghê chứ. Phải tinh lắm Ban giám khảo mới luận ra đấy.

“Đích thị là mình bị Ban tổ chức họ cơ cấu rồi”. Một ý nghĩ vụt đến trong đầu lão Cạch. Thế nhưng mà lão có triệu chứng gì đâu mà họ phải “cơ cấu” nhỉ? Thôi chết! Hay là họ nắm tướng số của lão thấy có vấn đề gì đặc biệt nên “cơ cấu” cho lão cái giải này?

Mặc cho anh chàng tổ chức lảm nhảm nói gì đó, lão Cạch trân trân nhìn vào mấy cái nong nia dần sàng đang đung đưa. Cà người lão rùng lên khi nghĩ đến những người được “cơ cấu” giải thưởng trước đây. Chả lẽ lão đã tuyệt mệnh rồi sao? Chả lẽ cõi trần của lão dứt ở đây sao? Lão mà “đi” thì cả cái cơ ngơi, sự nghiệp đan lát nhà lão cũng tan luôn mất thôi!

Gần như đồng thời, hàng loạt ý nghĩ ùa về quay cuồng trong đầu lão Cạch. Chia của cho con thế nào? Phải lập di chúc sao đây? Làm sao để đòi hết nợ? Chọn đất an táng chỗ nào?... Trước mắt lão Cạch tất cả chợt tối sầm lại. Lão cố căng mắt nhìn một lúc thì thấy có ánh cầu vồng le lói rồi chả thấy gì nữa. Khu triển lãm như vỡ ra bởi những tiếng hét dồn dập: “Gọi cấp cứu! Cấp cứu! Cụ Cạch bị rồi!”

Thứ Bảy, 30 tháng 3, 2024

Núi Nghiêm

Tôi gọi Núi Nghiêm là ngọn núi quê nhà

Có nhiều bữa xuyên đêm tìm trâu lạc

Vết đào sắn ngang, hốc đào mài dọc

Ngọn măng vầu nấp né bên nương


Xe quệt theo trâu kéo thóc gửi chiến trường

Đưa tiễn anh đi, ngày về anh thiếu vắng

Ngang trán núi đổ chiều giăng sương trắng

Lá thư chiến trường cả xóm đọc chung...


Lố nhố thấp cao lũ trẻ vỡ lòng

Rồi lớn dậy khoe mình bên dáng núi

Ruộng dộc, ruộng chầm, đôi mùa đắp đổi

Mạch nước lần vươn tận cuối đồng xa


Ngược dốc hành quân, chợt nhớ núi quê nhà

Thấy gần lại những đèo cua ngút mắt

Khoai mót độn cơm qua ngày giáp hạt

Rưng rưng lòng những năm tháng tha hương


Đồng làng xưa nay ngang dọc kênh mương

Vẫn gọi Hoàng Khai, ghi ân người mở đất

Hồ Từ Thủy bốn mùa xanh ngằn ngặt

Vọng chuông chùa buông thanh thản bình yên


Núi quê cho tôi bao kỷ niệm êm đềm

Theo tôi suốt những cung đường lặn lội

Chưa đủ phong trần đã thành già cỗi

Lại về đây bên bóng núi la đà./.



Chủ Nhật, 10 tháng 3, 2024

BỘN BỀ THÁNG BA

 

BỘN BỀ THÁNG BA

Tản văn

 Tháng Ba đến, nhẹ nhàng như như cái trở mình của cô thiếu nữ. Ấy vậy mà sao trời đất với lòng người lại cứ cồn cào, mỗi khi cái vòng quay muôn thuở của nguyệt lịch ấy hôm mai trở lại.

Tháng Ba, cây cối như phổng phao, những cánh lá lúa mơn mởn, xanh mỡ. Mọi thứ chắt bóp từ ngày đông tháng giá năm ngoái, giờ như được dịp bung nở. Xanh đến no nê con mắt, xanh dịu cả những đau đáu lo âu và những se sắt ngóng trông. Từ cánh đồng tôi rẽ vào làng, bắt gặp đám chồi tre xanh ngút mắt. Lại từ nhánh bê tông đường làng tôi quặt vào khu đồi rừng nhà ai đó, những keo, những bạch đàn, những đám cỏ dại lùng nhùng... , tất cả đều rạng ngời những búp, những chồi, những lá, non mướt nhung nhinh.

Tháng Ba, hoa xoan bung nở, tím mờ cả một triền ký ức người ta. Đêm xuống, chút heo may sót lại cuối mùa khẽ khàng lùa hương hoa ngan ngát đi đến tận cùng lối nhỏ. Cái thứ hoa không rực rỡ, cũng chẳng kiêu sa, mà biết bao lòng người đau đáu

Hoa xoan mỗi sớm bình minh

Rơi nghiêng mái tóc chúng mình đi qua

(Hoa xoan –Tùy Phong)

Một bước chân phiêu du rẽ về một ngõ làng quê Bắc bộ, những cánh hoa xoan lắc rắc kín mặt đường. Người phương lạ sẽ dẫm chân bước qua, lòng người dân Bắc Bộ thì như chững lại

Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay

Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy.

(Mưa xuân – Nguyễn Bính)

Những cánh hoa xoan li ti đâu đến độ "vơi đầy" trên ngõ đường quê? Chỉ là hồn người rưng rưng mỗi độ tháng Ba về, hoài niệm bời bời trong ký ức mà thôi!

Tháng Ba cồn cào bởi cả những dấu ấn xót xa của nó hằn lên nhiều thế hệ. Dân trồng lúa Bắc Bộ ai chẳng biết đến thành ngữ "Tháng Ba, ngày Tám", ai cũng hiểu nội hàm của cái từ "giáp hạt". Bao đời qua, vào cái vòng quay đôi vụ chiêm mùa, tháng Ba đến là khi vụ mùa đã qua lâu, vụ chiêm mới đang phập phồng, hạt thóc trong bồ đã vơi hao, cái đói rập rình khắp chốn.

Năm ấy mẹ sinh em mùa đói.

Tháng Ba nhọc nhằn và hoa gạo rụng hố vôi.

(Nỗi niềm tháng Ba– Bình Nguyên Trang)

Có những độ giáp hạt, cả làng tôi đói, hạt thóc làm nên văn hóa. Cha mẹ tôi cùng số đông dân làng phải lục tìm khắp triền đồi, hẻm núi để đào những gốc sắn hoang, lấy củ mang về cho lũ chúng tôi qua bữa. Những tháng Ba ấy qua đi với bao ký ức lấm luối, nhọc nhằn. Không dám oán trời, chỉ oán đời đã đày đọa những kiếp người lao khổ.

Và rồi vẫn còn đó những heo may cuối vụ. Câu chuyện Nàng Bân đan áo cho chồng chẳng giúp những tái tê đời thường dịu bớt. Câu chuyện tưởng xưa nhưng vẫn gần đây lắm, nghe lại rồi thấy xót xa thêm:

Ngày rét tháng Ba xưa mẹ không mang áo ấm

Chiếc khăn choàng trên cổ cũng phong phanh

Thân cò vẫn sớm chiều bên vuông đất

Lo cho con từng bữa những ngọt lành.

(Vần thơ ơn Mẹ - NgưngThu)

Tháng Ba, có cả những hào hùng lịch sử làm nên tầm vóc đất nước con người Việt Nam. Một thuở dựng nước với truyền thuyết "Sơn Tinh Thủy Tinh" luôn được mỗi người dân Việt nhắc đến vào ngày Giỗ Tổ. Có một câu ca dao nằm lòng đồng bào từ Nam chí Bắc:

Dù ai đi ngược về xuôi

Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng mười tháng Ba

Câu ca dao đâu chỉ nhắc dân ta về ngày tháng, đâu chỉ nhắc dân tộc ta về nguồn cội. Còn đó biết bao sự tích oai hùng suốt bốn ngàn năm tạo dựng, bồi đắp nên dải đất hình chữ S này. Ngày "mồng mười tháng ba" ấy đã cho mỗi con dân đất Việt cảm nhận về những kỳ tích khai sơn phá thạch, bạt rừng lấn biển của cha ông. Lại tự hào trong ánh hào quang của Phù Đổng Thiên Vương, không chịu co mình làm nô lệ. Đốt nén nhang thơm dâng ngày Giỗ Tổ, dù trai gái, trẻ già, cũng không quên sức mạnh diệu kỳ của lẫy nỏ thần trước thế giặc điên cuồng cướp nước...Gần đây lắm, cuộc trường chinh của dân tộc dành chủ quyền toàn vẹn cho dải đất thiêng liêng, đã kết thúc vang dội bởi chiến dịch tổng tiến công mùa Xuân năm 1975, đã ghi vào vòng quay thời gian muôn vạn thuở một tháng Ba đất nước hóa thiên thần

Tháng Ba, trên đất Việt Nam này như có một cảnh săc riêng khiến muôn vạn người vừa say đắm miên man, vừa cồn cào khắc khoải. Một cành hoa gạo đỏ, một chùm hoa vông lập lòe..., cũng làm ra sắc cảm.

Em ở đây không có mùa hoa gạo.

Đỏ rực trời đốt cháy tháng ba.

Cho lòng ai thổn thức lúc chia xa.

Quay quắt bước mà hồn còn một nửa

(Mùa hoa Gạo – Gió Phương Nam)

Lụa sim trải tím chân đồi.

Lửa dâng hoa gạo thắp trời tháng ba.

Cánh cò lả cuối đồng xa.

Gió thơm sóng tóc em à ơi...bay !

(Cỏ đêm – Phan Thanh Minh)

Tháng Ba, cái gió chuyển mùa nặng trịch làn hơi ẩm. Tấp tửng những đám mây đen vần vũ với những ánh chớp cùng tiếng sấm rền sang Hạ. Bìa rừng quê tôi lúp xúp những đám nứa tép nhỏ bằng ngón tay, bất chợt có thể gặp những bãi nấm đội lá nứa khô mọc lên một lần duy nhất trong năm. Người quê tôi gọi đó là nấm Muốt. Thứ nấm ấy nấu canh ăn ngọt và lành. Người hái được nấm Muốt thường là người có kinh nghiệm đi tìm, hoặc là người may mắn gặp được đúng ngày, đúng nơi nấm mọc.

Vào tháng Ba, tết Hàn Thực của người Việt như một sự giao thoa của những triết lý sống. Chộn rộn từ cả ngày hôm trước, để rồi cả ngày mồng Ba tháng Ba không nổi lửa bếp. Vị mát ngọt mía đường , bột nếp, với mùi hương hoa bưởi thanh tao của bánh trôi, bánh chay, như đưa hồn người về với sự tĩnh lặng của cõi thiền, cùng sự ngưỡng mộ hiền đức từ cõi tâm linh của những con người đương đại....

Tháng Ba, cái tháng giao mùa rồi cũng sẽ đi qua. Những cơn mưa giông mùa hè rồi cũng ào ạt tới, hoa gạo rồi cũng lần lượt buông mình... Vòng quay thời gian thì thật vô tình, nhưng những bộn bề tháng Ba thì đã mấy ai không vấn vít!

 




Thứ Sáu, 27 tháng 1, 2023

VẼ TÊN MÌNH

 


Truyện ngắn

 

-Alô, em là Lợi, ha ha.., Lợi “xê sáu” đây. Anh còn nhớ em không? Ôi dồi ôi..., em dò hỏi mãi trên hội cựu chiến binh, may lại có số của anh...

Cái giọng đàn ông ồn ã, rối rít trên điện thoại của một số thuê bao lạ hoắc khiến tôi ngay lập tức nhớ đến một người

-Lợi, Lợi “tây” phải không?

-Em đây. Bọn em đi tham quan cây đa Tân Trào, giờ đang chụp ảnh kỷ niệm ở quảng trường Nguyễn Tất Thành. Nhà anh ở gần đấy không?

-Nhà tớ chỉ cách đó mười cây thôi, đợi tớ phi xe ra, anh em mình gặp nhau tý nhá. Ba mươi mấy năm rồi còn gì....

-Không kịp rồi anh ơi, em đi cùng đoàn cựu chiến binh của tỉnh, chụp ảnh xong là tiếp tục đi thăm hồ thủy điện Na Hang. Lịch trình cài trước hết rồi....

Thế là tôi không gặp được Lợi, chỉ kịp hỏi thăm nhau mấy câu như quát qua điện thoại . Tôi cẩn thận lưu lại cái số thuê bao vừa liên lạc với cái tên danh bạ “Lợi Tây C6”,  rồi tần ngần ngắm cái dòng tên ấy trên màn hình một hồi lâu.

Lợi quê ở mãi tận Phú Thọ, nhưng nhập ngũ cùng một ngày và ở cùng “xê” với tôi. Lợi có nước da trắng trẻo, nhưng thân hình lại khuệch khoạc, vạm vỡ. Ngày mới về “xê”, có người nói anh ta to và trắng như người Tây. Cái biệt danh Lợi “tây” ra đời từ đấy.

Vì phải học xong Đại học rồi mới nhập ngũ, nên tôi “cứng” tuổi hơn so với nhiều bạn đồng ngũ. Trung đoàn chúng tôi là trung đoàn cơ động. Cứ khu vực nào trên toàn tuyến có dấu hiệu căng thẳng là trung đoàn phải đến trấn giữ. “Xê” của chúng tôi thuộc biên chế trong tiểu đoàn bộ binh chiến đấu, vì thế chuyện di chuyển cứ như cơm bữa. Tôi được phân công làm quản lý, mỗi lần di chuyển là lễ mễ với một gói giấy tờ, sổ sách. Lợi “tây” nói với tôi:

-Để hôm nào em làm cái hộp mà đựng giấy tờ cho gọn.

Cứ nghĩ hắn ta đưa đẩy cho vui, đâu ngờ mấy hôm sau, Lợi “tây” lễ mễ mang cho tôi hẳn một cái hòm đạn đã được sửa sang gọn gàng, có cả quai đeo, tay xách cẩn thận. Tôi khoái lắm. Sau khi “mắt tròn, mắt dẹt” một hồi, tôi lục trong ba –lô tìm được một gói thuốc lào An Thái dúi cho Lợi.

Tôi với Lợi “tây” thân thiết từ dạo ấy. Thỉnh thoảng hắn ghé qua chỗ tôi, rít điếu thuốc rồi tán đủ thứ chuyện tào lao.

Có một buổi chiều, tôi đang ngồi cộng sổ, Lợi “tây” ghé cổ nhòm vào hỏi:

-Anh làm việc à?

Tôi không trả lời, vừa gấp sổ sách lại, vừa ra giọng bí hiểm:

-Tao có một điếu Đồ Sơn, làm vài hơi không?

Bình thường, nghe thấy nói đến việc hút thuốc là Lợi “tây” sốt sắng ngay. Nhưng hôm nay hắn ta lại cau có:

-Vợ với con..., bực ghê anh ạ! Chuyến này em phải viết thư về cho nó một trận

-Sao thế? Ở nhà có chuyện gì à?

Tôi ngạc nhiên quay ra, vừa nhìn mặt hắn ta vừa hỏi dồn. Lợi “tây” không đáp lại mà rút phắt từ túi ngực áo một tờ giấy rồi chìa ra trước mặt tôi:

-Đây anh xem! Bực không chịu được …

Để mặc Lợi “tây” lủng phủng rồi ngồi phịch xuống đoạn cây gác làm ghế trước mặt, tôi vội vơ lấy tờ giấy hắn ta đưa và lướt nhanh. Thì ra là thư của vợ hắn.

Dù mới chỉ hai mươi tuổi, Lợi “tây”  không chỉ có vợ mà còn có cả một đứa con trai.  Có lần tôi hỏi tại sao lấy vợ sớm thế,  Lợi cười:

- Ở quê nhà em lấy vợ sớm anh ạ. Thằng Mão quê cùng xã với em, còn ít tuổi hơn em mà cũng có vợ có con rồi đấy.

Mão là chiến sỹ nhập ngũ cùng ngày và ở cùng “bê” với Lợi. Thường ngày hai thằng vẫn cùng đi với nhau.

 Lá thư vợ Lợi viết bằng cái kiểu chữ của học sinh phổ thông. Nét chữ nhủng nhoẳng,  có nhiều chỗ sai chính tả,  nhưng to rõ, dễ đọc. Trong thư,  vợ Lợi kể chuyện thằng con mọc răng mà không sốt.  Những chuyện trồng cà, trồng khoai, sức khỏe bố mẹ hai bên…, chuyện gì cũng có vẻ ổn cả. Tôi đọc cẩn thận lá thư một lần nữa nhưng cũng không thấy có chuyện gì đặc biệt, bèn ngẩng lên hỏi Lợi “tây”:

-Tao thấy có chuyện gì đâu? Vợ mày nói cả nhà  vẫn khỏe, hoa màu cũng được mùa,  có vấn đề gì đâu?

 -Nhưng mà viết cái kiểu ấy em bực không chịu được. Chuyến này viết thư về,  em phải cho một trận!

 Vừa đưa tay cầm lại bức thư gấp cẩn thận cho vào túi áo,  Lợi hục hặc nói với tôi, rồi nhổm đứng dậy quay ra thẳng, chả nghĩ gì đến chuyện tôi mời thuốc lá vừa nãy

 Tôi còn chưa hết băn khoăn về thái độ kì lạ của thằng Lợi, thì vừa may thấy Mão vác can nước đi qua.

-Ê chú mày,  vào đây anh nhờ tí! Tôi vẫy tay rối rít

Mão hạ can nước xuống rồi lửng khửng đi vào lều của tôi

 -Này,  làm vài hơi đi…- Tôi châm điếu thuốc lá rồi đưa cho Mão

Mão đón ngay điếu thuôc, rít một hơi rồi khoan khoái ngửa mặt nhả khỏi lên trời.

-Sao hôm nay cái thằng Lợi nó lạ thế nhỉ?

-Sao thế anh?  -Mão nhướn  mắt hỏi lại tôi.

Tôi liền kể lại lại tình huống vừa nãy của Lợi “tây”, chưa nghe xong thằng Mão đã cười ha hả:

 -Nó giả vờ để anh đọc thư cho nó đấy!

Thế rồi Mão hạ giọng giải thích ngọn nguồn cho tôi nghe.  Thì ra mặc dù đã học hết lớp Hai, nhưng bỏ học đã lâu nên bây giờ Lợi “tây” không đọc không viết được nữa. Thư vợ gửi lên, hắn cũng đem ra ngồi gốc cây, nhíu mắt, cau mày ra điều chăm chú, nhưng thực ra chỉ ngắm thôi. Cái kiểu này bên giáo dục vẫn gọi là “tái mù” đây…

 -Mọi khi thư vợ nó gửi lên, nó vẫn nhờ em đọc  cho nghe. Lần này này em với nó giận nhau, ngại không dám nhờ ai đọc, nên nó giả vờ như thế thế để anh đọc thư cho nó đấy.

 -Nhưng mọi khi vẫn ký sổ để lấy phụ cấp cơ mà?

 -Nó chỉ v được mỗi chữ tên nó thế thôi anh ạ.

Nghe xong chuyện Mão kể, tôi vừa thấy buồn cười vừa thoáng xót xa. Ừ thì cái sự học có người thích, có người không. Nhưng mà chắc chắn  không ai thích mù chữ cả. Những lá thư nhà đối với người lính quý giá lắm. Thế mà có thư đến thì không đọc được, lại còn phải dấu diếm cái bệnh mù chữ nữa, chắc là Lợi “tây” khổ tâm lắm!

 -Sao nó lại bỏ học sớm thế nhể? -Tôi hỏi lại Mão

 -Nó là con trai độc,  được chiều như ông tướng.  Đi học thì toàn bị đúp, nó chán, bỏ học lêu têu cả ngày, chả ai dám làm gì nó cả.

“Ờ…, hay là mình dạy chữ cho Lợi “tây” nhỉ?”. Tôi thần người một thoáng khi cái ý nghĩ ấy vụt đến trong đấu.. Theo tưởng tượng của tôi, nếu chịu khó, chỉ hai tháng là Lợi “tây” có thể đọc viết được. Nhưng nghĩ đến cái nhịp sống và chiến đấu hiện tại, tôi thấy cái ý tưởng ấy không thực tế lắm. “Thôi, cứ để tình hình yên yên rồi sẽ tính”. Nghĩ thế rồi tôi quay sang nói với Mão:

-Bọn mày là bố trẻ con rồi mà động tý là giận với chả dỗi. Này, có gói thuốc lào dở thằng Lợi bỏ quên, mang về đưa nó rồi đọc thư cho nó nghe. Mà đừng đi đâu cũng bô bô kể tật xấu của đồng đội đấy…

-Ái dà…, cái thằng này… - Mão vụt nhổm dậy, tròn xoe mắt: -Mấy hôm nay, cả “bê” chả có sợi thuốc nào, thế mà nó còn giấu được cả gói thuốc. Ghê thật!

Mão vơ gói thuốc đút cẩn thận vào túi quần rồi hùng hục vác can nước đi. Hôm sau, thấy hai thằng lại cập kè với nhau, tôi cũng thấy nhẹ lòng.

Được vài hôm, khi mái cỏ tươi trên các nhà “bê” còn chưa hết mầu xanh lá, chúng tôi lại nhận lệnh di chuyển đến vùng chiến sự ác liệt hơn. Dừng chân hạ trại ở bản Lủng chưa được nửa ngày, chúng tôi đã nhận nhiệm vụ hành quân chiến đấu. “Xê” chúng tôi được lệnh chiếm lĩnh Núi Thông, ngăn chặn bộ binh địch tập kích chiếm mất cao điểm.

Ngay sau bữa cơm chiều, khi trời vừa nhập nhoạng, anh Hòa “xê trưởng” đã ra lệnh hành quân. Tôi cùng bộ phận tuyến sau do anh Chiều “xê phó” chỉ huy, cả đêm hì hục củng cố và bảo vệ lán trại.

Vừa chợp mắt được một lát, đã nghe tiếng anh Chiều quát:

-Tất cả dậy, chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu. Bộ binh nó đánh lên Núi Thông rồi.

Đã nghe có tiếng tiểu liên xen lẫn tiếng mìn nổ vọng từ hướng Núi Thông về. Chúng tôi lập cập vơ súng tiểu liên cầm tay chờ mệnh lệnh, nét mặt ai cũng căng thẳng lo âu. Có lẽ ngoài anh Chiều, chúng tôi ở đây đều là lính mới, chuẩn bị xung trận lần đầu. May có những mệnh lệnh gay gắt từ chỉ huy, tâm lý chúng tôi dần ổn định trở lại.

Chừng khoảng bẩy giờ sáng, sương mù còn giăng giăng trong các khe núi, một loạt tiếng nổ đầu nòng từ phía địch dội đến, anh Chiều hét:

-Tất cả tản ra, nằm thấp xuống!

Không biết bằng cách nào, gần như lập tức, tôi đã nằm ép sát bên một vách đá nhỏ. Tiếng trái phá đã nổ ở phía Núi Thông. Lại một loạt tiếng đề - pa nữa dội đến. Anh Chiều đứng dõi mắt về phía Núi Thông một lát rồi hét vào khoảng không:

-Mẹ kiếp, thằng “dê” hai lăm  (D25) đâu, không khóa mõm nó lại? Để nó dần thế này thì chết hết lính à?

Ngày ấy thông tin liên lạc còn hạn chế lắm, chủ yếu là kéo dây với chạy bộ. Có lẽ bức bách vì không nắm được tình hình, lại không trao đổi với ai được, cứ mỗi lần pháo địch bắn sang, anh Chiều lại hét lên vài câu như thế.

Khoảng chín giờ sáng, cậu liên lạc đại đội tên Yên, hộc tốc chạy về tìm “xê phó”:

-Báo cáo anh, “đại trưởng” ra lệnh đưa toàn bộ anh em thương vong về tuyến sau. Toàn đại đội rút xuống vách đá chân núi tránh pháo.

-Thế là phải bỏ trận địa à?

-Pháo nó bắn dữ lắm anh ạ. Hầm hào đào đêm qua chưa đâu vào đâu, thương vong nhiều lắm. Đại trưởng với bốn người nữa vẫn ở lại trên núi...

Chưa nghe hết câu tường trình của cậu liên lạc, anh Chiều đã chỉ tay vào tôi rồi hạ lệnh:

-Cậu bỏ hết số tăng võng dự trữ ra rồi ở lại canh gác. Các đồng chí còn lại mang số tăng võng đó di chuyển theo tôi.

Loáng cái, mọi người đã đi hết. Tôi xách súng ngó quanh rồi rảo bước đi bao quát địa bàn. Mấy căn nhà hoang mái hở toang hoác được làm nơi trú tạm cho bộ đội. Trên nền đất rêu cỏ, những chiếc chiếu và ba lô cá nhân vẫn còn xô lệch sau lệnh báo động chiến đấu…

Những chiếc võng tải thương bê bết máu và đất đã hối hả chuyển về. Việc chuyển thương chủ yếu do “xê” vận tải đảm nhận. Nét mặt ai cũng bơ phờ, áo đẫm mồ hôi. Có người còn cởi trần để lấy áo quấn vào đòn khênh làm bằng cây rừng xù xì. Tất cả cố gắng di chuyển nhanh về “xê” quân y. Mắt tôi nhòa đi một thoáng, khi tôi chợt hiểu rằng trong những chiếc võng bết máu đi qua, sẽ có những đồng đội không còn được sống nữa.

Hai giờ chiều, pháo của ta mới khai hỏa rót vào trận địa pháo của địch. Dàn pháo của quân địch lập tức câm họng. Từ trên Núi Thông, chỉ còn tiếng súng tiểu liên thưa thớt vọng về, sau rồi im ắng hẳn. Giá như những loạt phản pháo này triển khai sớm hơn, có lẽ pháo địch đã không làm mưa làm gió, số thương vong sẽ bớt đi nhiều lắm...

Năm giờ chiều, anh Hòa “xê trưởng” đột ngột quay về. Tôi vội vàng cầm súng đứng lập nghiêm. Người chỉ huy không nói năng gì, hầm hầm đi thẳng về lán. Tôi đoán là tình hình đơn vị nghiêm trọng lắm. Tiếp sau anh Hòa, cả đại đội lục tục kéo về. Mặt mũi người nào cũng bơ phờ, nhàu nhĩ.

Ngay tối hôm đó, đại đội tôi lại hành quân rút về tuyến sau để củng cố. Núi Thông được giao cho tiểu đoàn khác. Nhờ có hỏa lực tăng cường và pháo binh yểm trợ, lính ta đã gia cố trận địa vững chắc, bộ binh địch cũng không còn dám mò lên nữa.

Về vị trí mới được ít ngày, đại đội tổ chức rút kinh nghiệm chiến đấu. Đại đội trưởng Hòa đã đề nghị cấp trên tuyên dương và khen thưởng Lợi “tây”.

-Nếu không có đồng chí Lợi “bê hai” (B2) sử dụng khẩu mười hai ly bảy để khống chế quân địch thì... –Nói đến đây anh Hòa ngừng lại một lát rồi mới tiếp tục: ...thì điểm cao cũng không còn, mà tôi cũng có khi không còn đứng đây được nữa.

Cả đơn vị ồ lên và đổ dồn mắt về phía Lợi “tây” khi nghe anh Hòa nói. Ai cũng ngạc nhiên,đám lính mới trong đại đội chưa ai biết sử dụng loại súng phòng không đó, và “xê” cũng không được trang bị khẩu nào.

-Tôi đề nghị đồng chí Lợi nêu lại tình huống để đại đội nắm được. -“Xê trưởng” giơ tay về phía Lợi và kết thúc phát biểu.

Lợi “tây” gãi đầu đứng lên. Hắn ta kể diễn biến trận đánh trên Núi Thông một cách lỗ ba lỗ bỗ, chẳng ra trình tự nào. Nhưng cả đơn vị tôi đều “mắt chữ a mồm chữ o” nghe hắn kể. Và rồi cũng mọi người hình dung được phần nào.

Thì ra trung đoàn có tăng cường cho trận địa Núi Thông một khẩu đội mười hai ly bảy. Ngay loạt pháo đầu tiên của địch, cả khẩu đội đã trúng đạn thương vong toàn bộ. Người thì đã đưa xuống được, nhưng súng thì vẫn nằm kềnh tại chỗ. Khi chỉ còn năm người ở lại trên núi, không biết bằng cách nào, Lợi “tây” đã tiếp cận rồi khai hỏa được khẩu súng. Nhờ có những loạt đạn của Lợi “tây”, hỏa lực của địch từ phía đối diện bị vô hiệu hóa, bọn bộ binh địch dưới chân núi cũng bị tiêu diệt và uy hiếp, không dám tràn lên. Thế là bọn chúng chỉ biết gọi pháo điên cuồng trút xuống trận địa.

-Tôi tháo khẩu súng rời ra. Nòng nó vẫn còn nóng, tôi cởi áo quấn vào rồi vác lên vai, tay thì kéo cái chân của nó. Cứ ngớt loạt pháo tôi lại chạy, nghe tiếng nổ đầu nòng tôi lại nằm xuống. Cuối cùng cũng mang được khẩu súng về chỗ nấp tránh pháo, may không dính mảnh nào.

Kể đến đấy, Lợi “tây” nhe răng cười rồi ngồi thụp xuống. Cả đại đội cùng cười theo rồi vỗ tay rào rào.

Sáng hôm sau, các “bê” vừa triển khai nhiệm vụ xong, Lợi “tây” đã lò dò đến chỗ tôi.

-Anh có thuốc lào không? Em thèm quá!

-Lấy đâu ra? -Tôi gắt gỏng: -Thằng Yên vừa véo trộm của đại trưởng cho tao mỗi tý đây.

Vừa nói, tôi vừa sờ lên vành tai, cẩn thận nhấc ra mấy sợi thuốc lào đã vo tròn bằng hạt ngô.

-Để em đi thay nước điếu mới.

Nhìn thấy viên thuốc lào, mắt Lợi “tây” sáng lên. Hắn ta lăng xăng chạy đi rửa ống điếu, rồi tìm que làm đóm…

Chia nhau cùng hút điếu thuốc lào quý giá xong, tôi lần hỏi lại chuyện trên Núi Thông.

-Này, hôm qua trên đại đội, mày kể tao nghe lõm ba lõm bõm…

-Thì…, em có nói trước đông người bao giờ đâu. Với lại, chuyện cũng bình thường. Là thằng lính, gặp địch thì phải oánh, thế thôi!

-Biết thế…, nhưng mà anh không hiểu. Sao mà chú mày lại ở lại với mấy thằng “bê một”? Sao mà… Thôi, chú mày cứ kể lại từ chỗ ấy đi!

Thế là Lợi “tây” rủ rỉ kể lại. Qua lời kể của hắn, trận đánh như đang diễn ra trước mắt tôi vậy.

 Do quân ta chưa kịp chuẩn bị hầm hào, nên ngay sau loạt pháo đầu tiên của địch, đại đội đã thương vong đến một phần ba quân số. “Xê trưởng ra lệnh toàn đại đội ngay lập tức chuyển anh em bị thương vong rút xuống chân núi tránh pháo, bê trưởng bê một (B1) chọn thêm ba người nữa cùng “xê trưởng” ở lại giữ chốt. Lợi “tây” nghe thấy thế liền giơ tay: “Đại trưởng cho em ở lại”. Không ngờ anh Hòa gật đầu ngay, rồi gằn giọng ra lệnh cả nhóm vận động lên đỉnh núi.

-Mày không sợ à? – tôi hỏi cắt ngang

-Lúc pháo nó bắt đầu dập xuống thì run lắm. Nhưng sau khi đi vác mấy thằng trúng pháo về, khắp người be bét máu, em như điên lên. Chỉ muốn lao ngay lên xem có thằng địch nào thì lia cả băng AK vào mặt nó…- Lợi “tây” nghiến răng trả lời tôi rồi lại kể tiếp.

Trên đỉnh Núi Thông, pháo địch đã phá sạch cây cối. Mấy đoạn chiến hào mới đào đêm qua cũng bị trúng pháo, đoạn còn, đoạn mất. Phía chân núi đã nghe thấy tiếng hò hét loạn xạ của bộ binh địch. Anh Hòa vừa nhô lên quan sát thì từ mỏm núi đối diện, một cụm hỏa lực của địch bất ngờ xả đạn về phía ta. Kịp thụp xuống lòng hào, anh Hòa quát lớn:

-Tản rộng ra, thấp người xuống. Nhô lên là trung liên nó quất cho vỡ mặt.

Khẩu súng máy của địch vẫn xả hàng loạt dài, đạn bay chíu chít trên đầu, cắm bùng bục vào đất. Tình hình lúc đó rất gay go. Bọn bộ binh địch có hỏa lực yểm trợ đang lóp ngóp tràn lên. Sau một thoáng suy tính, đại trưởng ra lệnh:

-Lợi, để lựu đạn lại rồi vòng sang thu hồi khẩu mười hai ly bảy kéo xuống chân núi. Số còn lại, tôi gọi tên ai, người đó nhô lên mà bắn rồi thụt xuống ngay. Hết đạn thì ném lựu đạn.

“Rõ!”. Cả bốn người đồng loạt hô khẽ. Lợi tuột đai lưng để mấy quả lựu đạn lại cho đồng đội rồi cầm súng trườn đi. Lợi dụng lúc đồng đội nhô lên bắn, hỏa lực của địch tập trung xả đạn về hướng đó, Lợi khom mình vọt qua khoảng trống. Có lẽ bọn bộ binh đã phát hiện ra Lợi “tây”. Hàng loạt tiểu liên nhằm về hướng di chuyển của anh.

Bằng một bước nhảy dài, Lợi “tây” đã kịp cuộn tròn trong hố đạn pháo ngay cạnh khẩu mười hai ly bảy, trước khi những viên đạn tiểu liên lao tới. Vục dậy, Lợi hì hục dựng lại khẩu súng. Đảo mắt qua, thấy đạn đã nạp vào ổ, hộp đạn vẫn còn nguyên, Lợi “tây” bặm môi kéo khóa nòng. Khẩu súng này vẫn hoạt động tốt, chỉ bị hất đổ do đất đá quật vào thôi.

Vừa cầm tay nắm súng, Lợi “tây” vừa suy tính rất nhanh. Đợi khi tiếng AK của đồng đội vang lên, hắn ta nhổm dậy, quay nòng súng về phía ổ hỏa lực của địch. Chỉ vài giây, mục tiêu đã nằm vào thước ngắm. Dõi mắt thẳng vào mục tiêu, Lợi nghiến răng nắm chặt tay súng và kéo cò. Một loạt đạn bay đi. Nhanh chóng chỉnh lại đường ngắm, Lợi “tây” kéo cò thêm một loạt nữa trước khi ngồi thụp xuống chờ sự đáp trả của hỏa lực địch.

Có đến nửa phút rồi mà hỏa lực địch vẫn im bặt. “Có khi trúng rồi!”. Lợi “tây” nghĩ thầm và nhổm lên nghe ngóng.

Nhận ra hỏa lực địch đã bị vô hiệu hóa, cả bốn tay súng của ta đồng loạt nhô lên lia hàng loạt đạn AK xuống đội hình địch. Chớp thời cơ, Lợi “tây” đứng tựa hẳn vào vách đất, chúc đầu nòng súng xuống chân núi, ngắm vào khu vực địch đang ẩn nấp, xả từng tràng dài.

Không còn được hỏa lực yểm trợ, lại bị sức công phá và tiếng nổ uy lực của đạn mười hai ly bảy làm khiếp vía, lũ bộ binh địch hoàn toàn thất thế, chúng vội vã thổi kèn thu quân.

“Mẹ chúng mày, mò lên nữa đi, để tao cho chúng mày toác mặt ra”. Vừa lẩm bẩm, Lợi “tây” vừa nghiến răng lia loạt đạn cuối xuống hướng lũ giặc đang tháo lui. Từ phía chiến hào, anh Hòa nhô người lên quát lớn:

-Lợi, rút ngay, pháo đấy!

Lợi thoáng giật mình. Chắc chắn bây giờ nó sẽ dập pháo. Hì hục tháo khẩu súng ra khỏi chân đế, lại cởi áo quấn vào cái nòng súng còn đang nóng giẫy, Lợi vác súng lên vai, một tay kéo cái càng súng, vọt ra khỏi hố đất. Nhưng không kịp nữa rồi! Vừa chạy được vài bước, tiếng đề- pa của pháo địch đã gầm lên, buộc Lợi “tây” phải nằm rạp xuống…

-Sao chú mày lại “chơi” được mười hai ly bảy ngon thế?

Nhớ những diễn biến sau đó đã nắm rõ, tôi lập tức đưa ra cái thắc mắc lớn nhất đang chập chờn trong đầu.

-Hì hì…, hồi ở nhà, em tham gia đội tự vệ nông trường, có được tập súng mười hai ly bảy mấy buổi. Hôm ở Núi Thông mới bắn đạn thật lần đầu. Đã lắm anh ạ!

-Chú mày khá lắm – tôi gật gù

-Cũng là em gặp may nữa. Phơi người ra như thế, lôi được súng về mà không bị dính viên đạn hay mảnh pháo nào. Bố em bảo em có quý nhân phù trợ đấy.

Lợi “tây” nói thế rồi nhăn răng cười hềnh hệch. Tôi ngẩng đầu lên nhìn Lợi. Hình ảnh Lợi “tây” trong trận đánh hiện lên trước mắt tôi như một người hùng huyền thoại, thoắt ẩn thoắt hiện, tả xung hữu đột giữa trận mạc mịt mùng súng đạn, giáng những đòn sấm sét vào mặt lũ ác quỷ, trả thù cho đồng đội và giành giữ vẹn nguyên giang sơn bờ cõi.

“ Không phải em gặp may đâu. Em là anh hùng thực sự đấy Lợi “tây” ạ. Chính lòng quả cảm sáng suốt và sự hy sinh quên mình của em, đã khuất phục súng đạn kẻ thù và mang về chiến công cho quê hương đất nước”. Tôi đã nghĩ và rất muốn nói những lời ấy với Lợi. Nhưng rồi cuối cùng tôi chỉ dám vỗ vai nó thật mạnh và  nhắc đi nhắc lại:

-Chú mày giỏi thật! Chú mày giỏi thật!

Sau đấy, Lợi “tây” được Trung đoàn cử đi dự lễ báo công toàn quân, được thưởng một chiếc đài bán dẫn và năm ngày phép. Hôm trở lại đơn vị, nó đãi cả “xê” một bọc thuốc lào to.

Khi chiến sự dịu đi, tôi xuất ngũ ra quân. Tôi chia tay Lợi “tây” bằng một chầu thuốc lào và những câu chuyện ồn ã. Cái dự định dạy nó đọc viết, tôi vẫn giữ kín đến tận bây giờ…

Điện thoại chợt báo có tin nhắn. Tôi lập cập đeo kính rồi bấm mở màn hình. Thì ra tin nhắn của “Lợi Tây C6”: Anh nhắn địa chỉ cho em, hôm về nếu kịp em sẽ đến thăm anh

Ô hô…. Thế là Lợi “tây” biết đọc biết viết rồi! Kể cũng phải! Đã ba mươi mấy năm còn gì. Với ngần ấy thời gian, người ta có thể làm được nhiều thứ đến mức vĩ đại ấy chứ, việc “xóa mù” có đáng kể gì? Nhưng mà…, kể cả vì một lý do gì đó khiến em vẫn chưa biết đọc biết viết, em vẫn chỉ biết vẽ tên mình thôi, thì em vẫn là một anh hùng, Lợi “tây” ạ!

Tôi nghĩ thế và thong thả bấm phím, nhắn tin trả lời cho đồng đội./.

 

Hoàng Khai, tháng Chín năm 2022